Chuyển kể về Bác Hồ nhân ngày sinh nhật 19/5/1890 - 19/5/2024
Tiếng cười bác ba phi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoan
Ngày gửi: 20h:26' 17-05-2024
Dung lượng: 768.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoan
Ngày gửi: 20h:26' 17-05-2024
Dung lượng: 768.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Tiếng cười Bác Ba Phi
Tác giả: Bác Ba Phi
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Bác Ba Phi
Bác Ba Phi là một nhân vật trong văn học dân gian. Ông là nhân vật chính trong những câu chuyện kể
về cuộc sống sinh hoạt thường ngày nhưng được cường điệu quá đáng (như rắn tát cá, chọi đá làm máy
bay rơi, leo cây ớt té gãy chân…) và được trình bày một cách tự nhiên khiến người nghe hoàn toàn bất
ngờ và bật cười. Ông là nhân vật cận đại nhất trong lịch sử kho tàng truyện trạng (nói dóc) của văn học
Việt Nam.
Nguyên mẫu cuộc đời
Nhân vật nguyên mẫu của Bác Ba Phi là nghệ nhân Nguyễn Long Phi (1884-1964). Ông vốn là một
nông dân tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, vốn cếu kể chuyện rất phong phú và đặc sắc, được nhiều
người ưa thích.
Ông sinh năm 1884 tại tỉnh Đồng Tháp, do gia đình quá nghèo nên từ nhỏ ông phải đi cày thuê để nuôi
tám người em nhỏ. Khi 15 tuổi, mẹ ông qua đời, ông trở thành một lao động chính trong gia đình. Tuy
cuộc sống cơ cực, ban ngày phải đi khẩn hoang, cày cuốc ruộng vườn, nhưng đến ban đêm, ông thường
tham gia tụ họp đờn ca, và được bà con trong xóm mê tiếng ca và nể trọng tính tình vui vẻ, bộc trực,
khẳng khái, đặc biệt là những câu chuyện kể và cách kể truyện lôi cuốn người nghe của ông.
Vốn làm tá điền cho Hương quản Tế – một địa chủ giàu có vùng Bảy Ghe, ông được Hương quản Tế
hứa gả cô con gái là Ba Lữ với điều kiện phải làm công trong ba năm. Nhờ sức chịu thương chịu khó,
nên sau ba năm thì ông cưới được vợ. Cũng do điều này mà Hương quản Tế rất yêu thương người con
rể này và đã cắt chia cho vợ chồng Ba Phi khá nhiều đất. Cộng với sự cần cù sẵn có, ông đã ra sức
khai khẩn phần đất được chia thành đồng ruộng cò bay thẳng cánh.
Hai người lấy nhau một thời gian mà không có con, vì vậy bà Ba Lữ đã đứng ra cưới vợ hai cho
chồng. Bà này sinh được một người con trai là Nguyễn Tứ Hải. Không rõ vì lý do gì mà khi Nguyễn
Tứ Hải mới ba tuổi, bà đã gửi con cho chồng rồi về quê ở Mỹ Tho cho đến lúc qua đời. Ông Nguyễn
Tứ Hải về sau lập gia đình với bà Nguyễn Thị Anh, sinh hạ một người con trai – cháu đích tôn của bác
Ba Phi – tên là Nguyễn Quốc Trị. Trong những câu chuyện của bác Ba Phi thì đây chính là nhân vật
thằng Đậu nổi tiếng. Và cũng có thành ngữ “Tệ như vợ (thằng) Đậu” được dùng để chỉ những người
vụng về.
Về sau bác Ba Phi cưới thêm vợ ba. Bà tên Chăm, là người dân tộc Khmer. Bà sinh được hai đứa con
gái.
Bác Ba Phi qua đời ngày 3 tháng 11 năm 1964 tại rừng U Minh Hạ, nay là ấp Đường Ranh, xã Khánh
Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Phần mộ của ông được đặt giữa hai ngôi mộ của bà Ba Lữ và
bà Chăm tại ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải nằm ở một góc rừng U Minh Hạ.
Hiện nay, khu nhà và mộ phần của bác Ba Phi được xây dựng thành tuyến du lịch văn hóa của tỉnh Cà
Mau.
Những nét đặc sắc văn học
Bác Ba Phi thuộc lớp hậu duệ của những tiền nhân đi khai mở đất rừng U Minh. Cả quãng đời, mà đặc
biệt là thời tuổi trẻ của bác Ba Phi, là quá trình khai phá đất rừng U Minh nguyên sinh, vốn rất hào
phóng mà cũng lắm khắc nghiệt. Với tihần khai phá, tính lạc quan yêu đời, thế giới quan của ông hiện
ra thật sinh động và đáng yêu.
Những câu chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng
khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi, đồng thời nó còn ẩn chứa tính hào hùng của lớp
người đi mở đất, tính cách đặc trưng Nam Bộ, lòng yêu thương thiên nhiên và con người.
Cho đến tận ngày ông qua đời, không có một văn bản nào chính thức có ghi chép lại những câu chuyện
do ông kể, kể cả người trong thân tộc ông. Những câu chuyện kể của bác Ba Phi là những câu chuyện
truyền miệng. Tuy nhiên, nó cũng đầy đủ hình thức cấu trúc văn học: mở đề, thắt nút và kết thúc. Một
mặt, nó cũng hao hao một loại tiểu thuyết chương, hồi rút gọn, dù có đảo lộn trật tự thế nào cũng giữ
được ý nghĩa và tính xuyên suốt của những câu chuyện kể độc lập.
Những câu chuyện của bác Ba Phi, do tính chất “truyền miệng”, vì vậy thường bị “biên tập” hoặc
“hiệu chỉnh” lại trong quá trình câu truyện “lưu lạc”. Thêm vào đó, cũng có không ít những câu chuyện
do người khác sáng tác, nhưng vẫn lấy danh xưng bác Ba Phi.
Theo: Wikipedia
Con Trăn Rồng
Mùa nước năm đó, có một đêm trời mưa bão làm đổ ổ quạ ngoài cây tràm. Lũ cò, diệc bị gió đánh rơi
lướt khướt, rã cánh té đầy đường.
Ở những lùm cây rậm, loài dơi, quạ đeo thành đùm bằng cái thùng thiếc, sát vào các nhánh cây. Rừng
tràm U Minh đêm đó nổi sóng ì ùm không thua gì sóng biển. Vợ chồng con cái tui ngủ trên túp chòi có
sàn gác, bị dông đẩy đưa tựa như ngồi xuồng nan trên biển.
Độ nửa đêm, tui nghe bên dưới sàn gác có tiếng động gần những bụi chung quanh. Chuyện đó thì cũng
chẳng có gì lạ. Thường những đêm mưa dông như vậy, lũ thú rừng bị ướt ổ, đâm ra quạu, cắn lộn với
nhau kêu ầm lên.
Đến sáng tỏ mặt, dượng Tư nó từ đàng nhà mang một cái giỏ trên vai đi lượm cò rớt, dài dài lại nhà
tui. Tui thì còn ngồi co ro trên sàn gác, chưa chịu dậy. Đang ngồi bập bập điếu thuốc, tui bỗng nghe
dượng Tư nó la bài hãi bên dưới:
- Trời đất quỷ thần ơi! Cái con gì dị hợm kỳ đời, anh Ba ơi!
Tui lật đật vớ cây mác thông, tuột xuống thang gác, chạy tới xem. Là tay thợ rừng đã từng sành sỏi,
nhìn con vật đó tui cũng phải bí lù, không thể hiểu nổi là giống vật gì. Cái mình là mình con trăn,
nhưng trăn sao đầu lại có sừng? Cái đầu là đầu con rồng, nhưng tại sao rồng gì lại không chân mà tiếng
kêu nghe “bét bét”?
Con vật bắt đầu bò đi. Mình nó láng ngời, suôn óng, đầu có sừng chà chôm, cổ nghển lên, miệng cứ
kêu “bét bét”. Tui đặt tên đại cho nó là “con trăn rồng”. Nhưng dượng Tư nó không chịu, dượng bảo là
con trăn gấm vừa nuốt một con nai, đầu nai còn ló ra ngoài nên nhìn thấy nó lạ lùng như vậy.
Con trăn rồng ấy cứ bò tới, nghển cổ, quơ sừng kêu “bét bét”.
Heo Đi Cày
Nhà tui không nuôi bò, chỉ có một bầy heo với một bầy trâu. Đứng trong nhà dòm ra, thì chuồng trâu ở
phía tay trái, chuồng heo ở phía tay mặt. Xứ này, vào mùa mưa là muỗi kêu như sáo thổi, trâu hay heo
gì cũng phải căng mùng cho nó ngủ cả.
Mùa cày năm đó, mưa chụp xuống hơi sớm, nên tui phải cày riết ba đám ruộng kẻo ngập nước mất. Cứ
vậy, tôi cày xong buổi thì thả bung ba con trâu ra cho bà nhà làm gì thì làm. Đầu canh năm, bả kêu tui
thức dậy mở chuồng, lùa trâu ra ruộng tiếp tục cày nữa. Tui chỉ để ý có một điều là lúc nằm ngủ phải
quay đầu vô vách, để khi giật mình thức dậy đứng lên, đi ngay mở chuồng trâu phía tay trái rồi lùa đi.
Trâu nhà tui có con đực pháo và con cái chim là cặp hay nhứt. Giống trâu “phồn” mạnh vô cùng, vai
ngang, bụng thắt, mông to, đi bền hết kể. Một đêm, mới đầu canh năm là tui lùa trâu ra ruộng, gác ách,
cày. Trời còn tối, nhìn hai con trâu bữa nay kéo cày, tui lấy làm lạ. Hồi lùa ra thì chúng chạy lúp xúp,
đến chừng cày, chúng lại kéo đi vù vù, hăng hái vô cùng.
Tui đánh trâu cày đến sáng. Khoảnh đất một mẫu tây đã được khoanh hơn bảy vòng nong. Nhưng mặt
trời càng lên, cặp trâu càng đi chậm. Tui cứ cầm cày, mắt ngó xuống đường miệng la: “Vó vô pháo!
Thá ra chim”, tay thì quất roi tới tới. Lạ đời! Chẳng những hai con trâu không chịu nghe ví thá gì, mà
miệng cứ thở hồng hộc, bước đi lệt bệt đến nỗi muỗi mòng cắn vàng đít mà chúng cứ ngoáy ngoáy cái
đuôi một khúc cụt ngủn, chớ không chịu thò ra quơ đập như mọi ngày.
Cày thêm một lúc nữa, hai con lại nằm ì ra. Tui nổi giận đánh con bên này một roi thật mạnh, nó la
“éc” một tiếng. Đánh con bên kia một roi, nó cũng la “éc éc” như vậy. Đến chừng nhìn kỹ lại, tui mới
bật ngửa ra, hồi hôm, vì vợ tui sửa cái chõng ngủ ngược đầu, trước khi đi ngủ, nên quên để ý.
Đến chừng nghe bả kêu, tui mắt nhắm mắt mở bật dậy, tôi cứ đi ngay ra mà mở chuồng phía tay trái
như mọi bữa. Ai ngờ, lại mở lộn nhằm chuồng heo.
Cá Trê Lung Tràm
Tui dẫn bày chó săn vô Lung Tràm định lùng thịt, cũng dạo mùa nước rọt này đây. Dưới kinh, cá quẫy
ùn ụt, trên rừng chim chóc bay rần rần. Mình muốn kiếm bậy một con nai để làm đám kị cho bà già vợ,
chớ loại cá, chim đó thường quá. Vùng Lung Tràm thuở đó còn thầy choại, dớn với cây tràm, đất trấp
phập phếu, bởi vậy người ta mới kêu nó là Lung Tràm.
Đã quyết đi vào khu vực có nai, nhưng đến mặt trời lên cao mấy cây sào, tui vẫn chưa hạ được một
chú nào. Bị nhiều bạn săn quần tới lui hoài, nên “bể” hay “đổ” nhanh như gió. Mỗi khi nghe chó vừa
đánh hơi sủa lên, tức thì nghe một tiếng “bét” là chỉ còn đứng mà ngó theo.
Đến lúc mặt trời gần đứng bóng, người cùng chó đã mệt mỏi, tui mới rề lại một gốc cây tràm nghỉ mát.
Chân bước từ từ, mắt cứ ngó dáo dác theo mấy con ong mật đang ăm bông trên đọt tràm, bất thần tui
đạp lên mình một con nai chà đang nằm ngủ. Tui giật mình té ngửa, con nai cũng hoảng hồn nhảy dựng.
Nó phóng một cái, đụng nhằm gốc cây to dội lại, té lên mình tui. Sẵn cây mác trên mình, tui vớ chân
sau con nai. Khứa một nhát vào nhượng. Còn lại ba chân, con nai cố bươn chạy. Bầy chó thấy vậy,
đuổi theo. Bị rượt ngột quá, con nai chạy giạt vào bìa rừng, phóng xuống Lung Tràm. Bầy chó chia làm
hai, ven theo hai mé lung. Con nai lội qua bên này thì lũ chó bên này tấn công, hễ lội qua bên kia thì lũ
chó bên kia ví ép. Nó lúng túng, lội qua lội lại mãi… Tui giục c vây chặt và ép lần cho con nai lội về
hướng nhà mình. Ra tới ngã ba lung, thấy thằng em tui đằng kia chống xuồng lại. Tui kêu tiếp. Thằng
em tui nhấn sào chống vọt tới bên con nai. Bây giờ con nai còn cố lội lờ đờ, cái đầu trên mặt nước.
Thằng em tui với nắm lấy cái chà gạt con nai, lôi mạnh lên xuồng. Nhưng trời ơi! Con nai chỉ có cái
chùm ruột lòng thòng dính ở phía dưới. Té ra nãy giờ nó bị cá trê dưới Lung Tràm bu theo rỉa sạch
trọn thịt thà, xương xóc. Bầy cá cứ vây lấy con nai mà rỉa thịt làm cho con nai cứ trồi lui trồi tới, vậy
mà tui cứ tưởng con nai còn lội. Thằng em tui kéo luôn lên xuồng cùng với xác còn lại của con nai cả
tạ cá trê. Con nào con nấy bằng cườm tay người lớn.
Ếch Đờn vọng Cổ
Tui có bầy vịt, hễ bum búp lông cánh là lần lượt bị mất sạch trơn. Tức quá, rình mò mấy bữa tui mới
biết là bị ếch ăn. Chỗ đuôi đìa, dưới gốc bụi tre có một hang ếch lớn quá cỡ.
“Ăn thịt vịt tao thì mày phải đền mạng” – Nghĩ vậy, tui mới lấy sợi dây thép quai thùng dầu uốn thành
một lưỡi câu, lấy sáu sợi dây chì bệnh lại làm nhợ, một đầu buộc con vịt xiêm vừa ra ràng, một đầu
buộc vào bụi tre.
Mặt trời lên độ một con sào. Tôi ngồi rình, thấy một con ếch bà từ trong góc tre lù lù lội ra. Con ếch
thấy con vịt, men lại ngửi ngửi rồi lắc đầu, bỏ đi. Biết nó chê con vịt này còn hôi lông nên chưa chịu
ăn. Bữa sau, tui đổi một con vịt mái đang đẻ, mập sà đít. Hừng sáng là tui cũng đến chỗ hôm qua ngồi
rình.
Cũng đến lúc mặt trời lên độ một con sào, con ếch bà đó lại cũng vạch bèo lội ra. Trông thấy con vịt
ta mập ú, nó ngó dáo dác, mặt mày hớn hở, gật gật đầu mấy cái. Con ếch khỏa bèo, hớp nước súc
miệng sào sạo, phun ra cái phèo rồi chồm tới bên con vịt. Nó nhướng mắt, táp bụp rồi nhai rau ráu,
nuốt một cái ực. Như vướng phải lưỡi câu, nó nhợn trở ra. Thấy tình thế không xong, tui vụt đứng dậy
la “ếch” một tiếng. Con ếch giật mình nhào ngang, bị lưỡi câu xóc hàm hạ, nó giãy đùng đùng sáu sợi
nhợ cây thẳng băng. Nó lúc la lúc lắc cái đầu, sáu sợi dây chì rẽ quạt ra. Hai tay nó quày lia lịa. Sáu
sợi dây bật ra những tiếng kêu bỗng trầm “tằng tăng, tủng tẳng” khác nhau. Tui ngồi nghe. Sao có chỗ
vô sang, ra hò mùi quá! Một hồi phát ngứa miệng, tui ứng thanh theo, ca bậy vài câu vọng cổ chơi
Rắn Hổ Mây Tát Cá
- Hồi xửa hồi xưa, khi mới tới đất này khai phá, rắn trong rừng U Minh con nào con nấy lớn lắm. Mới
đầu, người ta kể, tui còn chưa tin. Nhưng rồi có một bữa tui cùng bả vô rừng, tính kiếm cái đìa nào
lớn, nước cạn, tát bắt ít cá về ăn.
- Tui với bả tát tới ven rừng, nghe như có tiếng ai đang tát nước từ xa vọng lại. Chả là trong rừng có
một cái đìa bề ngang chừng năm thước, bề dài chừng hơn bốn mươi thước, tui đã nhắm chừng từ bữa
hổm. Tiếc thiệt, bây giờ mới tới ven rừng đã có người tát rồi.
- “Ai đó mà lẹ vậy!”. Tui nói bả vậy. Nhưng rồi cả hai vẫn lẹ làng đi tới. Đứng ở mé bờ đìa bên này,
núp sau một thân cây tràm bự chảng, tui thấy một con rắn hổ mây ở mé đìa bên kia. Cái đuôi nó ngoéo
một đầu, cái đầu nó ngoéo một bên, thân hình nó dẹp lại đu đưa.
Thì ra nó đang tát nước cạn để bắt cá ăn. Tui bấm tay bả một cái đau điếng, ra hiệu đứng yên để coi
con rắn hổ mây nó làm chi. Gần xế bóng mặt trời, cái đìa đã cạn, những con cá rô, cá trê đen thùi quẫy
đành đạch trên bùn. Bả thích quá, kêu trời một tiếng.
Thấy động, con rắn vội bỏ chạy vô rừng. Tui chỉ việc bảo bả về kêu bà con ấp xóm ra bắt mang về.
Hỏng tin, mọi người hỏi bả thử coi!
Bắt Cá kèo
- Hồi xưa bác cũng đi bắt cá kèo nữa hả, bác Ba?
Bác Ba đang cùng với mấy đứa cháu lối xóm ngồi chuyện trò từ trưa đến giờ dưới gốc bụi tre tàu
trước nhà. Gió chướng thổi xạc xào cành lá. Ngồi thấy bác Ba có vẻ mỏi mệt, không muốn kể chuyện
thêm nữTruyền cắc cớ, kiếm chuyện hỏi thêm.
- Ừ! Cá kèo tao bắt dữ lắm. Có hôm lấy ghe mà chở – Bác Ba trả lời.
- Thiệt vậy hả bác? Ủa mà hồi đó bác bắt cá kèo ở đâu vậy?
Thằng Truyền lại hỏi, vẻ mặt coi bộ nghi ngờ, khó hiểu. Mấy đứa trẻ khác thì mở trừng mắt nhìn theo
mấy ngón tay đang múa may như phù phép của bác.
- Nè, coi tao bắt đây! Bác Ba đứng dậy trỏ một ngón tay xuống đất. Tụi con nên nhớ vùng biển Đá Bạc
của mình hồi đó vô cho tới tận con kinh Lung Tràm này. Cá kèo lội đặc như bánh canh trong nồi.
Nhưng ngày xưa mà, đâu có phương tiện gì nhiều để bắt cá kèo như bây giờ. Chủ yếu là bắt bằng tay
thôi. Cũng không phải ai cũng bắt bằng tay giỏi như tao. Tụi con coi đây.
Bác Ba xòe hai bàn tay giơ lên.
- Đơn giản như vầy chứ mỗi lần tao thò tay xuống sông rồi giở tay lên là bắt được mười con, mỗi kẽ
tay một con, nằm im không vẫy gì được. Cá kèo coi nó trơn lùi vậy chớ không con nào chạy tuột ra
khỏi được tay tao đâu.
Mấy đứa nhỏ ngồi nghe chợt thấm ý, bật cười, cái đầu tụi nó gục gặc. Chỉ riêng thằng Truyền không
nói, cũng không cười. Nó ngồi yên, chỉ đưa hai bàn tay ra trước mặt, cái miệng nó lép nhép nói gì như
đếm thầm. Vụt một cái nó đứng dậy bước tới, nắm tay áo bác Ba Phi lại, hỏi:
- Bác mới vừa nói mỗi kẽ tay bác bắt một con. Hai bàn tay có tám kẽ tất cả, vậy làm sao bác bắt được
mười con một lần?
Thằng nhỏ bất ngờ hỏi “trẹo cẳng ngỗng”, bác Ba đớ người một lúc rồi đưa tay vỗ vỗ xuống đầu nó
như thể nựng nịu. Bác xuống giọng:
- Đúng thế. Thằng Truyền hỏi đúng. Thông thường làm gì bắt được một lúc mười con cá kèo như vậy.
Nhưng vì tay tao bắt cá “dính” quá, nên có số cá kèo nịnh lội tới lội lui, chực sẵn bên ngoài, chờ tao
thò bàn tay xuống mỗi lần như vậy, là chúng nó nhào vô hai con một lượt để “dính ké”. Nhờ vậy mà
mỗi lần tao giơ tay lên thì được đến mười con!
Lúa Nở
Cấy xong một chục công lúa sa-mo trời cứ đổ mưa hoài, làm cho bác Ba Phi ngồi khoanh tay rầu rĩ.
Bác cứ nhấp nha, nhấp nhổm, uống trà, đi ra hàng ba đứng treo tay nhìn những cơn mưa mờ mịt ruộng
đồng, rồi trở vô ngồi vấn thuốc hút, uống trà. Thật là sống ở thời buổi nầy một khi bị tai nạn thiên
nhiên giáng xuống thì sức người đành vô phương khả đảo. Đêm nằm trăn trở lắng nghe từng cơn mưa
rơi lộp độp trên mái lá mà bác Ba cứ thở vắn than dài! Bác hay lặp đi lặp lại với bác gái cùng thằng
Đậu một câu:
- Từ hôm xuống nọc cấy đến nay tính đã… Ơi, sao mưa mãi là mưa! Cái điệu nầy chắc “bà Thủy cắt
hộ tịch” mười công lúa sa-mo của mình rồi.
Nhưng từ sau cái đêm than thở não nuột của bác Ba, dường như động lòng trời, sáng ra có mây ráng đỏ
chen vào giữa buổi bình minh. Triệu chứng này báo hiệu cho một ngày quang đãng. Quả như vậy. Mặt
trời ló dạng vàng óng như chiếc mâm thau được chùi thuốc tẩy, chiếu ra nhiều tia sáng kỳ diệu. Chim
chìa vôi cất tiếng hót líu lo ngoài tàn cây xoài. Những con cúm núm lai gà tàu ở đầu bờ ruộng gù lên
hai giọng: “ò ó o… ò, cúm núm, cúm!…” Và con bò lai nai nửa tháng trời bị thằng Đậu niệt miết trong
chuồng cho ăn toàn những rơm khô, bây giờ thấy trời ấm áp, nghếch cái đầu có chà gạc lên, nhìn đám
cỏ non bên ngoài bằng cặp mắt trong veo, thèm thuồng rồi cất tiếng rống như mừng rỡ: “Um bò! Bét,
bét!”. Mặt trời càng lên cao, những tia nắng sớm càng soi óng ánh qua từng kẽ lá trong khu vườn cây
tổng hợp của bác Ba Phi.
- Nắng hồng tươi soi bóng các em đến trường…”
Trong lúc bác Ba Phi lắc nước chiếc xuồng ba lá sau mương, để chuẩn bị đi thăm ruộng, thằng Đậu
trong nhà cứ ca hát và nhảy nhót tựa con chim trao trảo.
- Đậu à! Sửa soạn đi thăm ruộng với ông nội!
Nghe ông nội kêu, thằng Đậu vội lấy chiếc nón vải màu xanh cũ mèm có một lỗ rách trên chóp đội lên
đầu và xách cây sào nạng chạy ra. Đến bên xuồng. Thằng Đậu bị bác Ba bảo quay trở lại:
- Bỏ hờ theo một chiếc liềm hái, coi có cỏ rác gì mọc theo bờ mà cắt vén cho l
Sau đó, ông lái, cháu mũi chống xuồng qua mấy mương liếp, ra tới mé ruộng. Qua đợt mưa chum, nước
đồng lênh láng như biển. Từng đợt sóng của ngọn gió nồm bỏ vòi trắng đã bổ xồng xộc vào mạn xuồng.
Ông cháu bác Ba lái xuồng thả trôi theo sóng. Xuồng chạy te te trên mặt đồng, hướng mũi về phía đám
lúa sa-mo. Trên mặt đồng, những nơi cỏ bắp hoặc cỏ chỉ đều bị nước ngập láng te. Những đám sậy,
đám điên điển bị cỏ mục của giồng cào trôi đùn, chất lên nhau, mang theo hàng hà sa số là gián nước
và kiến riệng. Sóng đánh sì soạp vào be xuồng. Gió thổi rì rào qua đám sậy. Gió đùa lất phất hàm râu
lưa thưa dưới cằm bác Ba. Gió vuốt mơn man qua món tóc trán thòi ra chỗ nón rách trên đầu thằng
Đậu. Cảnh thôn quê dịu dàng làm dễ chịu lòng người. Gió êm đềm mát mẻ tâm hồn người ta đến nhớ
nhung mông lung vời vợi! Hai ông cháu bác Ba cứ thả xuồng và thả hồn mình trôi vào mơ mộng.
Họ cứ mê mải mỗi người tham gia vào “câu lạc bộ” của quá khứ, của tương lai riêng biệt, không ai lái
xuồng kềm cho nó đi ngay ngắn. Xuồng trôi tấp vào một con giồng cỏ cạnh miếng ruộng lúa sa-mo mà
họ định đến thăm tự hồi nào. Khi nhìn thấy một khu vực mặt đồng nước sôi tim mẳn tựa có một bầy cá
ròng ròng khổng lồ đang ăn mống, họ mới giật mình. Bác Ba gò xuồng lại, trở ngược ngọn sào xốc
xuống đất, cột xuồng. Mở gói thuốc bánh giồng ra quấn một điếu lớn bằng ngón tay cái, ngồi bập khói,
đôi mắt cứ hấp háy như còn tiếc ngẩn cơn mơ, bác Ba rầm rì phàn nàn:
- Nước ngập láng te thế này, ba cái lúa “đi ông Yẹm” hết rồi, thật toi công.
Nhìn mặt nước sôi tim mẳn, bác Ba càng chua xót trong lòng. Nhưng dù sao bác cũng thăm dò xem
đám lúa còn mất thế nào. Bác Ba uể oải ném điếu thuốc đánh xèo và chậm rãi xắn quần lội xuống
ruộng. Điều trước hết làm cho bác Ba ngạc nhiên là khi hai chân vừa chạm tới đất dường như dẫm
phải những bụi cỏ tươi còn đang căng sức sống ngầm mãnh liệt. Bác Ba chựng người, kêu lên một
tiếng nhìn thằng Đậu rồi khom người dùng tay sờ thử. Lại một ngạc nhiên kế tiếp: tai bác nghe rõ ràng
những tiếng rào rào dường như tằm đang ăn lá dâu dưới lòng nước. Kinh ngạc quá, bác Ba mò quýnh
quáng trên mặt đất để tìm xem chuyện gì. Chốc sau, khi mọi việc được xác định rõ ràng, bác Ba ngẩng
người lên thở ra một hơi dài, và vui vẻ báo tin với thằng Đậu:
- Lúa vẫn sống! Lúa đang nở ngầm trong dòng nước. Mầy nghe tiếng lúa vặn mình nở rào rào đó
không?
Suốt mười ba năm sống trên thế gian nầy, thằng Đậu chưa hề nghe thấy điều kỳ quặc vậy. Nó liền nhảy
ùm xuống đồng nước mò th để kiểm nghiệm lời nói của ông nội.
Tất bật thế nào, khi phóng xuống ruộng, ống quần của nó vướng vào mũi xuồng, giật một cái đập đầu
vào tấm lô, mắt đổ lửa:
- Trời đất ơi!
Nghe tiếng kêu thảm thiết của đứa cháu, bác Ba Phi vội chồm đến đỡ nó dậy. Bác vuốt ve, xuýt xoa
cho nó. Cái quần vải tám của thằng Đậu tét dọc từ ống lên tới háng. Một tay túm ống quần, một tay
thằng Đậu mò tìm thử xem cái chuyện lúa nở ngầm ông nội vừa nói. Quả thật! Những bụi lúa đang vặn
mình lên đâm ngạnh trê, xé bẹ nở ra lách tách nghe tựa hàng ngàn con tép rộn rã búng nhảy. Thằng Đậu
mê quá, nắm gọn vào tay một bụi nghe thử sức nở của lúa. Lúa cứ xạo xự vươn mình chỉ chốc sau đó
là đầy cứng một nắm tay.
- Làm sao hở ông nội? Cứ để như vầy lúa sẽ nở đặc gật, tới chừng trổ bị lốp hết, không có một hột nhổ
râu cho mà xem.
Bác Ba đứng ngẫm nghĩ một hồi rồi ra lệnh cho thằng Đậu:
- Phải đi cắt tranh về bó từng bụi lúa lại để hạn chế sức nở của nó.
Ông cháu bác Ba chống xuồng như bay lên vạt đất gò Kinh Ngang cắt chở về một xuồng cọng tranh. Từ
đó cho tới chiều tối, hai người mò mẫm bó lại từng bụi lúa đang có tốc độ nở ngầm dưới nước. Đêm
ấy về nhà, bác Ba Phi chống xuồng lên đầu trên, xóm dưới kêu bà con đi “bó lúa” với ông cháu bác
vào ngày mai.
Sáng hôm sau già, trẻ, bé, lớn, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, trẻ con cả xóm rầm rộ chống xuồng
ra ruộng bác Ba Phi để “bó lúa” vần công. Dĩ nhiên xuồng của ông cháu bác Ba chống tiên phuông.
Lúc dắt đoàn đi gần tới miếng ruộng lúa, chợt trông thấy một hiện tượng kỳ lạ, vội hô bà con dừng lại.
Những chiếc xuồng ba lá khẳm mẹp người ta dồn lại thành cục, tiếng sào khua rột rạt, tiếng người xôn
xao bàn tán rì rầm nổi lên. Thấy hàng ngũ nhốn nháo mất trật tự, bác Ba hô lớn cho họ yên tâm:
- Cũng chẳng phải có chuyện gì lạ lùng lắm đâu. Dường như có kẻ nào đem lưới đại quàng lại giăng
trên miếng ruộng của tôi. Bà con trông kìa, những hàng phao lưới trắng trắng, đen đen đang nổi bập
bềnh đầy mặt ruộng đó.
Tất cả nhìn theo tay bác Ba Phi. Chỗ miếng ruộng, ngay khu vực bác Ba với thằng Đậu “bó lúa” hôm
qua, có hàng dọc xâu chuỗi phao lưới của ai đang giăng, phao lưới màu đen có, xám có cái nào cũng
bự bằng trái dừa khô. Tất cả bà con nổi giận thét lên:
- Lưới quàng sao không giăng ngoài khơi mà bắt cá đao, cá dống lại đem giăng bừa lên trên lúa ngập
nước của người ta?
Thét xong, bà con ào ào tới, không cần phải làm thông lệ là ăn trầu, hút thuốc trước khi bước xuống
ruộng. Thằng Đậu đứng trước mũi, bác Ba Phi chống sau lái của chiếc xuồng đi đầu. Xuồng vượt lên
ao ào, mũi lòa nước trắng dã. Bỗng nhiên thằng Đậu kêu lên:
- Coi kìa! Mỗi chiếc phao sao lại có hai chân chòi đạp sáng nước?
Bác Ba vội vã chống sào nạng nhún liền mấy cái, chiếc xuồng vọt tới nơi. Bác đã biết rõ những cái
thứ trước mặt là giống gì rồi, vội thét lên:
- Xúm lại bắt chim bà con ơi!
Nghe bác Ba Phi kêu, tất cả xuồng ùn ùn chống tới, vây quanh khoảnh ruộng có những hàng “phao
lưới” nổi. Khi nhìn tận mắt họ mới vỗ tay rần rần, cười nói vang dậy trên đồng nước:
- Thật là chuyện lạ trên đời, thế gian hi hữu!
Chim ơi là chim! Chàng bè, le le, giăng sen, cồng cộc không rõ can cớ gì mà chúng cứ chổng mông,
cắm đầu xuống nước, giơ hai chân chỏi ngược lên trời? Bà con nhảy ùm xuống ruộng mò thử xem. Rốt
ra họ mới hiểu rõ nguyên nhân: Chim đang mắc kẹt đầu trong giữa bụi lúa. Đây là những loài chim ăn
đêm, mò nước, bị lúa nở ra, kẹp mắc đầu vào giữa kéo không lên được. Bà con xúm lại “nhổ” chim
lên, dùng dây tranh bó lúa trói chúng lại, mỗi xuồng bỏ đầy một khoang.
Bác Ba Phi Làm Thầy Bói
Mấy hôm nay, Hai Lúa cứ nghe thằng Út của mình nói mãi về ông thầy bói hổng biết từ đâu tới coi
tướng, coi tay hay hết biết luôn. Từ khi ông ta tới, lối xóm coi đông nghẹt.
- Ba biết hông. – Thằng Út huyên thuyên – Ngay cả ông hội đồng dữ tợn thấy mà vẫn phải sợ ổng. Cả
tuần nay, ông ra rước ổng về cơm nước, trà rượu hẳn hoi với tiền công lên tới hàng trăm đồng chỉ để
coi tiền vận, hậu vận gia đình ông ta. Ổng nói ông hội có nhiều vợ lẽ, con rơi nên gia đạo bất an, nếu
không tích đức như đem của cải chia sớt cho người nghèo, giảm thuế ruộng, thuế đất thì sau này cuộc
đời sẽ khốn khổ, hổng chừng lại bị tù đày.
- Hừ! Nói vậy tao nói cũng được. – Hai Lúa xua tay.
Thằng Út cãi lại:
- Tại ba không tin thôi, chứ còn nhiều chuyện lạ nữa kìa. Như chuyện chú Tư, ổng coi tay, coi tướng
một lát rồi nói: Bàn tay chú có tài lộc đang chờ, nhưng ngặt tuổi kỵ màu đỏ, màu đen. Nếu chú giải
được nạn đó thì nên đi qua Rạch Ráng xin lỗi bà nhạc gia rồi rước vợ về cho yên gia đạo. Mượn luôn
vài chục công đất đi mua lúa cày cấy liền tay cho tới Tết thì trong nhà chú lúa không dưới năm trăm
giạ, gia đạo yên, tiền tài vô như nước. Còn việc kỵ màu đen, nếu bỏ đá gà, bài bạc, đánh đề thì xong
tuốt.
Nghe thằng Út kể tới đó, Hai Lúa đòi đi xem mặt lão thầy bói. Nhưng khi vừa thấy Hai Lúa, ông thầy
bói đã tái mặt. Còn Hai Lúa, nhìn lão thầy bói thấy râu giả, kiếng che mặt và gương mặt hao hao giống
ai đó, Hai Lúa ra về thì thầy bói cũng nhổ neo đi mất.
Mấy năm sau, trong một lần có “rượu vào lời ra”, Hai Lúa chợt hỏi:
- Năm đó tại sao chú bỏ trốn?
- Không trốn anh lật tẩy à? – Ba Phi tao cười khà – Chuyện tui làm thầy bói thiệt tình tui có muốn đâu.
Cũng bởi, tui thấy bà con mình mê bói toán, nên tui mới làm vậy với ý định hạn chế phần nào tệ nạn xã
hội ở xứ mình thôi mà. Anh Hai nhớ đi, tui xủ quẻ cho họ mà tui lấy đồng nào không? Lúc tui gặp anh,
tui giận lắm vì bị anh phá ngang xương, nhưng nghĩ lại mới thấy chuyện anh tới là đúng lúc, chớ để tui
hết bài, nói ẩu không chừng hậu quả ngược lại ý muốn của mình thì chết cha.
Rùa U Minh
“Ai làm gì mà khói lên trong hậu đất vậy cà?” – Đứng sau hè, thấy khói lên trong hậu đất, tui lẩm bẩm
như vậy rồi bỏ vô nhà. Mới bưng chén trà lên hớp một ngụm, thì thằng Sáu hào hển chạy kêu:
- Bác Ba ơi! Ai đốt cháy Lung Tràm, rùa qua hậu đất bác lểnh nghểnh. Hai bác cháu mình ra ví bắt ít
con, chiều rang muối nhậu lai rai chơi.
Nghe nói nhậu rùa rang muối, tui chép nước miếng, lật đật với cái bao bố rồi dông theo thằng Sáu liền.
Hai bác cháu tui vừa ra khỏi mé vườn thì thấy từ phía Lung Tràm rùa bò qua thật nhanh. Chúng còn ở
ngoài kia, nhưng dường như thấy tụi tui nên nghểnh cổ nhìn. Đi tới chút nữa, bỗng bầy rùa ấy chụm đầu
ngay vào chúng tui mà khẹt lửa. Liền đó, mấy trái đạn ĐK.57 nổ ầm ầm trên đầu. Hai bác cháu tui
phóng xuống mương, bươn chạy một bữa muốn phờ râu. Biết sao không? Xe lội nước chớ rùa gì. Sau
đó không lâu, cũng thấy lửa cháy ven lung như vậy, cũng thằng Sáu hào hển qua, kêu:
- Bác Ba ơi! Xe lội nước đốt sậy, càn qua tới hậu đất rồi kìa. Chạy trốn mau đi! Hai bác cháu tui chạy
một mạch qua tới Lung Bùn, chém vè cho tới chiều. Về chưa tới nhà, thì thằng Ba Lùn chặn lại rủ vô
nhà nhậu thịt rùa rang luối. Nó bảo là hồi trưa nó đốt giang sậy ven Lung Tràm, bắt được vài chục con
rùa. Nó còn nói có mấy con bò qua hậu đất tui, bắt không được. Nghe nói mà tui tiếc hùi hụi. Hồi trưa
thấy bầy rùa bò đó mà tưởng đâu xe lội nước, bỏ chạy trốn. Thiệt tức!
Lại một lần sau nữa thấy lửa cháy giang sậy, cũng thằng Sáu chạy qua kêu:
- Bác Ba ơi! Lần này đón bắt rùa thiệt đó!
Hai bác cháu tui cảnh giác, đứng núp trong bờ chuối nhìn ra. Tui thấy từ xa những chấm đen đang động
đậy, nhích dần về phía mình. Thằng Sáu dợm chạy ra bắt.Tui nắm tay nó, kéo lại:
- Chết mẹ! Xe lội nước!
Xe lội nước thiệt. Chúng căng thành hàng ngang chạy ngang qua. Hai bác cháu tui chạy một mạch qua
Lung Bùn, chém vè vô đám nga. Hai đứa chia nhau hai chỗ. Trốn trong con lung này đầy sình lầy, xe
lội nước khó lòng mà chạy vô được.
Tui nằm chờ co ro trong một lùm nga, nghe tiếng xe chạy rù rù êm tai làm cơn buồn ngủ kéo ghị sụp mí
mắt xuống. Trong mơ mơ màng màng, tui nghe xa xa có tiếng lửa cháy, sậy nổ rốp rốp, gần gần có tiếng
rùa bò qua sột soạt.
Trước mắt tui, chập chờn hình ảnh những còn rùa vừa bò ngang vừa ngóng cổ lên như nòng súng ĐK
trên mui xe lội nước. Lại tốp rùa phía sau bò tới nữa, tới nữa. Rùa nhả lửa, khạc đạn ầm ầm, ì ì… Có
một con bò đến bên chân tui, thở phì phò, phì phò… Tui cứ nằm im, nói thầm trong bụng: Kệ cha mày!
Đừng gạt tao chạy ra bắt để gặp xe lội nước nữa. Nhưng con rùa đó thật kỳ cục, cứ nhắm chân tui mà
bò lên, mà thở phì phò nóng hổi. Hơi thở của nó hôi xăng tanh rình. Người ta nói không thèm bắt nó rồi
mà cứ ủi ủi vào chân mãi. Tui nổi xung, tống cho nó một đạp thật mạnh. Con rùa văng bổng lên khỏi
đọt nga, rớt ngửa ra giữa lung bùn một cái ùm, nước văng trắng dã. Tui giựt mình tỉnh dậy, vì bàn chân
tui đau điếng. Đang ngồi xoa bóp, bỗng nghe ai đó bò xột xọt lại gần. Thằng Sáu! Nó đến sát bên tai
tui, thì thào:
- Chết rồi bác Ba ơi! Tính sao bây giờ? Có một chiếc xe lội nước đang bò vô chỗ này, bỗng nhiên nó
văng bắn, lộn nhào ra giữa lung. Nó còn nằm ngửa bơi bơi như hai sợi dây xích lên trời như hai con
cuốn chiếu lật ngược vậy đó.
Chài Cá Chốt
Bữa nọ, bác Ba gái bây bả thèm mắm tép, vì thế bả kêu tao đi chiều về mần ít nắm, sẵn gởi cho Hai
Lúa một mớ nhậu chơi.
Làm theo lời bả, hai ông cháu tao chống xuồng ra sông cái, rà tới rà lui một hồi, tao tấp xuồng vô bờ
rồi quăng chài, cái chài tròn lủm thiệt là vừa mắt.
Quăng xong, ông cháu tao ngồi chờ, nhưng lạ quá, cái chài không muốn chìm.
Ngồi chờ đến tàn điếu thuốc, mà cái chài cứ nhồi lên, chìm xuống như cặp bè gặp sóng không bằng.
Tức mình nên tao biểu thằng Đậu phóng xuống mò thử xem sao. Loáng sau, thằng Đậu đã trồi lên, nó
thở khì:
- Chài không mắc gốc đâu nội ơi. Tại nó chụp đúng bầy cá đông nghẹt nên nó không chìm được đó
thôi.
Kiếm tép lại gặp cá, nhưng bỏ cá thì uổng, ông cháu tao đành hì hục kéo cái chài đầy cá lên xuồng,
vừa vặn nước liếm be.
Đẩy được chiếc xuồng về đến xóm thì đã quá trưa, tao quyết định đưa chài lẫn cá lên giàn phơi luôn,
chớ cá chốt gai ngạnh thấy phát ớn, ai đâu mà gỡ cho nổi.
Phơi luôn tới ngày hôm sau, ông cháu tao lấy chài xuống gỡ được hơn c thúng cá khô. Tổng cộng là
mười hai ngàn lẻ hai con cả thảy. Bác Ba gái bây kêu thằng Đậu cuốn bồ, vô cá để làm phân rải cho
mùa dưa hấu tới.
- Nè, bác Ba! Hổng lẽ bác đếm từng con cá chốt sao mà bác biết nó có mười hai ngàn lẻ hai con?
- Trời đất! Thứ đồ cá làm phân, ai hơi sức đâu để đếm. Tại vì cái chài của tao có mười hai ngàn lẻ hai
lỗ, mỗi lỗ dính một con, vậy có phải mười hai ngàn lẻ hai con không hả?
Khỉ Đi Phát Cỏ Ruộng
Hồi mới khai phá vùng này, khỉ nhiều vô kể. Mỗi bầy đông tới hàng trăm con, con lớn bằng đứa trẻ lên
bốn, lên năm. Chúng phá ác lắm. Tui trồng được thứ gì là nó vặt trọi thứ đó. Năm nọ, tui trồng rẫy
khoai rộng lắm. Tới chừng khoai có củ, khỉ móc ăn sạch sành sanh. Tức mình quá, tui tìm kế trị chúng
một trận cho tởn.
Suy nghĩ hoài mà chưa có cách, giống khỉ khôn có hạng, đâu phải dễ dàng gì gạt được nó. Một hôm,
nghĩ ra một kế. Cứ mỗi lần đi làm ruộng là nó bu lại ngồi trên đọt tràm dòm ngó. Tui chợt hiểu: À!
Đám này là chúa bắt chước. Vậy là tới bờ, tui kéo xuồng lên, múc nước trong xuồng uống rồi rửa mặt.
Nước trong xuồng tui pha mật ong ngọt lịm. Khi về...
Tiếng cười Bác Ba Phi
Tác giả: Bác Ba Phi
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Bác Ba Phi
Bác Ba Phi là một nhân vật trong văn học dân gian. Ông là nhân vật chính trong những câu chuyện kể
về cuộc sống sinh hoạt thường ngày nhưng được cường điệu quá đáng (như rắn tát cá, chọi đá làm máy
bay rơi, leo cây ớt té gãy chân…) và được trình bày một cách tự nhiên khiến người nghe hoàn toàn bất
ngờ và bật cười. Ông là nhân vật cận đại nhất trong lịch sử kho tàng truyện trạng (nói dóc) của văn học
Việt Nam.
Nguyên mẫu cuộc đời
Nhân vật nguyên mẫu của Bác Ba Phi là nghệ nhân Nguyễn Long Phi (1884-1964). Ông vốn là một
nông dân tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau, vốn cếu kể chuyện rất phong phú và đặc sắc, được nhiều
người ưa thích.
Ông sinh năm 1884 tại tỉnh Đồng Tháp, do gia đình quá nghèo nên từ nhỏ ông phải đi cày thuê để nuôi
tám người em nhỏ. Khi 15 tuổi, mẹ ông qua đời, ông trở thành một lao động chính trong gia đình. Tuy
cuộc sống cơ cực, ban ngày phải đi khẩn hoang, cày cuốc ruộng vườn, nhưng đến ban đêm, ông thường
tham gia tụ họp đờn ca, và được bà con trong xóm mê tiếng ca và nể trọng tính tình vui vẻ, bộc trực,
khẳng khái, đặc biệt là những câu chuyện kể và cách kể truyện lôi cuốn người nghe của ông.
Vốn làm tá điền cho Hương quản Tế – một địa chủ giàu có vùng Bảy Ghe, ông được Hương quản Tế
hứa gả cô con gái là Ba Lữ với điều kiện phải làm công trong ba năm. Nhờ sức chịu thương chịu khó,
nên sau ba năm thì ông cưới được vợ. Cũng do điều này mà Hương quản Tế rất yêu thương người con
rể này và đã cắt chia cho vợ chồng Ba Phi khá nhiều đất. Cộng với sự cần cù sẵn có, ông đã ra sức
khai khẩn phần đất được chia thành đồng ruộng cò bay thẳng cánh.
Hai người lấy nhau một thời gian mà không có con, vì vậy bà Ba Lữ đã đứng ra cưới vợ hai cho
chồng. Bà này sinh được một người con trai là Nguyễn Tứ Hải. Không rõ vì lý do gì mà khi Nguyễn
Tứ Hải mới ba tuổi, bà đã gửi con cho chồng rồi về quê ở Mỹ Tho cho đến lúc qua đời. Ông Nguyễn
Tứ Hải về sau lập gia đình với bà Nguyễn Thị Anh, sinh hạ một người con trai – cháu đích tôn của bác
Ba Phi – tên là Nguyễn Quốc Trị. Trong những câu chuyện của bác Ba Phi thì đây chính là nhân vật
thằng Đậu nổi tiếng. Và cũng có thành ngữ “Tệ như vợ (thằng) Đậu” được dùng để chỉ những người
vụng về.
Về sau bác Ba Phi cưới thêm vợ ba. Bà tên Chăm, là người dân tộc Khmer. Bà sinh được hai đứa con
gái.
Bác Ba Phi qua đời ngày 3 tháng 11 năm 1964 tại rừng U Minh Hạ, nay là ấp Đường Ranh, xã Khánh
Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Phần mộ của ông được đặt giữa hai ngôi mộ của bà Ba Lữ và
bà Chăm tại ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải nằm ở một góc rừng U Minh Hạ.
Hiện nay, khu nhà và mộ phần của bác Ba Phi được xây dựng thành tuyến du lịch văn hóa của tỉnh Cà
Mau.
Những nét đặc sắc văn học
Bác Ba Phi thuộc lớp hậu duệ của những tiền nhân đi khai mở đất rừng U Minh. Cả quãng đời, mà đặc
biệt là thời tuổi trẻ của bác Ba Phi, là quá trình khai phá đất rừng U Minh nguyên sinh, vốn rất hào
phóng mà cũng lắm khắc nghiệt. Với tihần khai phá, tính lạc quan yêu đời, thế giới quan của ông hiện
ra thật sinh động và đáng yêu.
Những câu chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng
khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi, đồng thời nó còn ẩn chứa tính hào hùng của lớp
người đi mở đất, tính cách đặc trưng Nam Bộ, lòng yêu thương thiên nhiên và con người.
Cho đến tận ngày ông qua đời, không có một văn bản nào chính thức có ghi chép lại những câu chuyện
do ông kể, kể cả người trong thân tộc ông. Những câu chuyện kể của bác Ba Phi là những câu chuyện
truyền miệng. Tuy nhiên, nó cũng đầy đủ hình thức cấu trúc văn học: mở đề, thắt nút và kết thúc. Một
mặt, nó cũng hao hao một loại tiểu thuyết chương, hồi rút gọn, dù có đảo lộn trật tự thế nào cũng giữ
được ý nghĩa và tính xuyên suốt của những câu chuyện kể độc lập.
Những câu chuyện của bác Ba Phi, do tính chất “truyền miệng”, vì vậy thường bị “biên tập” hoặc
“hiệu chỉnh” lại trong quá trình câu truyện “lưu lạc”. Thêm vào đó, cũng có không ít những câu chuyện
do người khác sáng tác, nhưng vẫn lấy danh xưng bác Ba Phi.
Theo: Wikipedia
Con Trăn Rồng
Mùa nước năm đó, có một đêm trời mưa bão làm đổ ổ quạ ngoài cây tràm. Lũ cò, diệc bị gió đánh rơi
lướt khướt, rã cánh té đầy đường.
Ở những lùm cây rậm, loài dơi, quạ đeo thành đùm bằng cái thùng thiếc, sát vào các nhánh cây. Rừng
tràm U Minh đêm đó nổi sóng ì ùm không thua gì sóng biển. Vợ chồng con cái tui ngủ trên túp chòi có
sàn gác, bị dông đẩy đưa tựa như ngồi xuồng nan trên biển.
Độ nửa đêm, tui nghe bên dưới sàn gác có tiếng động gần những bụi chung quanh. Chuyện đó thì cũng
chẳng có gì lạ. Thường những đêm mưa dông như vậy, lũ thú rừng bị ướt ổ, đâm ra quạu, cắn lộn với
nhau kêu ầm lên.
Đến sáng tỏ mặt, dượng Tư nó từ đàng nhà mang một cái giỏ trên vai đi lượm cò rớt, dài dài lại nhà
tui. Tui thì còn ngồi co ro trên sàn gác, chưa chịu dậy. Đang ngồi bập bập điếu thuốc, tui bỗng nghe
dượng Tư nó la bài hãi bên dưới:
- Trời đất quỷ thần ơi! Cái con gì dị hợm kỳ đời, anh Ba ơi!
Tui lật đật vớ cây mác thông, tuột xuống thang gác, chạy tới xem. Là tay thợ rừng đã từng sành sỏi,
nhìn con vật đó tui cũng phải bí lù, không thể hiểu nổi là giống vật gì. Cái mình là mình con trăn,
nhưng trăn sao đầu lại có sừng? Cái đầu là đầu con rồng, nhưng tại sao rồng gì lại không chân mà tiếng
kêu nghe “bét bét”?
Con vật bắt đầu bò đi. Mình nó láng ngời, suôn óng, đầu có sừng chà chôm, cổ nghển lên, miệng cứ
kêu “bét bét”. Tui đặt tên đại cho nó là “con trăn rồng”. Nhưng dượng Tư nó không chịu, dượng bảo là
con trăn gấm vừa nuốt một con nai, đầu nai còn ló ra ngoài nên nhìn thấy nó lạ lùng như vậy.
Con trăn rồng ấy cứ bò tới, nghển cổ, quơ sừng kêu “bét bét”.
Heo Đi Cày
Nhà tui không nuôi bò, chỉ có một bầy heo với một bầy trâu. Đứng trong nhà dòm ra, thì chuồng trâu ở
phía tay trái, chuồng heo ở phía tay mặt. Xứ này, vào mùa mưa là muỗi kêu như sáo thổi, trâu hay heo
gì cũng phải căng mùng cho nó ngủ cả.
Mùa cày năm đó, mưa chụp xuống hơi sớm, nên tui phải cày riết ba đám ruộng kẻo ngập nước mất. Cứ
vậy, tôi cày xong buổi thì thả bung ba con trâu ra cho bà nhà làm gì thì làm. Đầu canh năm, bả kêu tui
thức dậy mở chuồng, lùa trâu ra ruộng tiếp tục cày nữa. Tui chỉ để ý có một điều là lúc nằm ngủ phải
quay đầu vô vách, để khi giật mình thức dậy đứng lên, đi ngay mở chuồng trâu phía tay trái rồi lùa đi.
Trâu nhà tui có con đực pháo và con cái chim là cặp hay nhứt. Giống trâu “phồn” mạnh vô cùng, vai
ngang, bụng thắt, mông to, đi bền hết kể. Một đêm, mới đầu canh năm là tui lùa trâu ra ruộng, gác ách,
cày. Trời còn tối, nhìn hai con trâu bữa nay kéo cày, tui lấy làm lạ. Hồi lùa ra thì chúng chạy lúp xúp,
đến chừng cày, chúng lại kéo đi vù vù, hăng hái vô cùng.
Tui đánh trâu cày đến sáng. Khoảnh đất một mẫu tây đã được khoanh hơn bảy vòng nong. Nhưng mặt
trời càng lên, cặp trâu càng đi chậm. Tui cứ cầm cày, mắt ngó xuống đường miệng la: “Vó vô pháo!
Thá ra chim”, tay thì quất roi tới tới. Lạ đời! Chẳng những hai con trâu không chịu nghe ví thá gì, mà
miệng cứ thở hồng hộc, bước đi lệt bệt đến nỗi muỗi mòng cắn vàng đít mà chúng cứ ngoáy ngoáy cái
đuôi một khúc cụt ngủn, chớ không chịu thò ra quơ đập như mọi ngày.
Cày thêm một lúc nữa, hai con lại nằm ì ra. Tui nổi giận đánh con bên này một roi thật mạnh, nó la
“éc” một tiếng. Đánh con bên kia một roi, nó cũng la “éc éc” như vậy. Đến chừng nhìn kỹ lại, tui mới
bật ngửa ra, hồi hôm, vì vợ tui sửa cái chõng ngủ ngược đầu, trước khi đi ngủ, nên quên để ý.
Đến chừng nghe bả kêu, tui mắt nhắm mắt mở bật dậy, tôi cứ đi ngay ra mà mở chuồng phía tay trái
như mọi bữa. Ai ngờ, lại mở lộn nhằm chuồng heo.
Cá Trê Lung Tràm
Tui dẫn bày chó săn vô Lung Tràm định lùng thịt, cũng dạo mùa nước rọt này đây. Dưới kinh, cá quẫy
ùn ụt, trên rừng chim chóc bay rần rần. Mình muốn kiếm bậy một con nai để làm đám kị cho bà già vợ,
chớ loại cá, chim đó thường quá. Vùng Lung Tràm thuở đó còn thầy choại, dớn với cây tràm, đất trấp
phập phếu, bởi vậy người ta mới kêu nó là Lung Tràm.
Đã quyết đi vào khu vực có nai, nhưng đến mặt trời lên cao mấy cây sào, tui vẫn chưa hạ được một
chú nào. Bị nhiều bạn săn quần tới lui hoài, nên “bể” hay “đổ” nhanh như gió. Mỗi khi nghe chó vừa
đánh hơi sủa lên, tức thì nghe một tiếng “bét” là chỉ còn đứng mà ngó theo.
Đến lúc mặt trời gần đứng bóng, người cùng chó đã mệt mỏi, tui mới rề lại một gốc cây tràm nghỉ mát.
Chân bước từ từ, mắt cứ ngó dáo dác theo mấy con ong mật đang ăm bông trên đọt tràm, bất thần tui
đạp lên mình một con nai chà đang nằm ngủ. Tui giật mình té ngửa, con nai cũng hoảng hồn nhảy dựng.
Nó phóng một cái, đụng nhằm gốc cây to dội lại, té lên mình tui. Sẵn cây mác trên mình, tui vớ chân
sau con nai. Khứa một nhát vào nhượng. Còn lại ba chân, con nai cố bươn chạy. Bầy chó thấy vậy,
đuổi theo. Bị rượt ngột quá, con nai chạy giạt vào bìa rừng, phóng xuống Lung Tràm. Bầy chó chia làm
hai, ven theo hai mé lung. Con nai lội qua bên này thì lũ chó bên này tấn công, hễ lội qua bên kia thì lũ
chó bên kia ví ép. Nó lúng túng, lội qua lội lại mãi… Tui giục c vây chặt và ép lần cho con nai lội về
hướng nhà mình. Ra tới ngã ba lung, thấy thằng em tui đằng kia chống xuồng lại. Tui kêu tiếp. Thằng
em tui nhấn sào chống vọt tới bên con nai. Bây giờ con nai còn cố lội lờ đờ, cái đầu trên mặt nước.
Thằng em tui với nắm lấy cái chà gạt con nai, lôi mạnh lên xuồng. Nhưng trời ơi! Con nai chỉ có cái
chùm ruột lòng thòng dính ở phía dưới. Té ra nãy giờ nó bị cá trê dưới Lung Tràm bu theo rỉa sạch
trọn thịt thà, xương xóc. Bầy cá cứ vây lấy con nai mà rỉa thịt làm cho con nai cứ trồi lui trồi tới, vậy
mà tui cứ tưởng con nai còn lội. Thằng em tui kéo luôn lên xuồng cùng với xác còn lại của con nai cả
tạ cá trê. Con nào con nấy bằng cườm tay người lớn.
Ếch Đờn vọng Cổ
Tui có bầy vịt, hễ bum búp lông cánh là lần lượt bị mất sạch trơn. Tức quá, rình mò mấy bữa tui mới
biết là bị ếch ăn. Chỗ đuôi đìa, dưới gốc bụi tre có một hang ếch lớn quá cỡ.
“Ăn thịt vịt tao thì mày phải đền mạng” – Nghĩ vậy, tui mới lấy sợi dây thép quai thùng dầu uốn thành
một lưỡi câu, lấy sáu sợi dây chì bệnh lại làm nhợ, một đầu buộc con vịt xiêm vừa ra ràng, một đầu
buộc vào bụi tre.
Mặt trời lên độ một con sào. Tôi ngồi rình, thấy một con ếch bà từ trong góc tre lù lù lội ra. Con ếch
thấy con vịt, men lại ngửi ngửi rồi lắc đầu, bỏ đi. Biết nó chê con vịt này còn hôi lông nên chưa chịu
ăn. Bữa sau, tui đổi một con vịt mái đang đẻ, mập sà đít. Hừng sáng là tui cũng đến chỗ hôm qua ngồi
rình.
Cũng đến lúc mặt trời lên độ một con sào, con ếch bà đó lại cũng vạch bèo lội ra. Trông thấy con vịt
ta mập ú, nó ngó dáo dác, mặt mày hớn hở, gật gật đầu mấy cái. Con ếch khỏa bèo, hớp nước súc
miệng sào sạo, phun ra cái phèo rồi chồm tới bên con vịt. Nó nhướng mắt, táp bụp rồi nhai rau ráu,
nuốt một cái ực. Như vướng phải lưỡi câu, nó nhợn trở ra. Thấy tình thế không xong, tui vụt đứng dậy
la “ếch” một tiếng. Con ếch giật mình nhào ngang, bị lưỡi câu xóc hàm hạ, nó giãy đùng đùng sáu sợi
nhợ cây thẳng băng. Nó lúc la lúc lắc cái đầu, sáu sợi dây chì rẽ quạt ra. Hai tay nó quày lia lịa. Sáu
sợi dây bật ra những tiếng kêu bỗng trầm “tằng tăng, tủng tẳng” khác nhau. Tui ngồi nghe. Sao có chỗ
vô sang, ra hò mùi quá! Một hồi phát ngứa miệng, tui ứng thanh theo, ca bậy vài câu vọng cổ chơi
Rắn Hổ Mây Tát Cá
- Hồi xửa hồi xưa, khi mới tới đất này khai phá, rắn trong rừng U Minh con nào con nấy lớn lắm. Mới
đầu, người ta kể, tui còn chưa tin. Nhưng rồi có một bữa tui cùng bả vô rừng, tính kiếm cái đìa nào
lớn, nước cạn, tát bắt ít cá về ăn.
- Tui với bả tát tới ven rừng, nghe như có tiếng ai đang tát nước từ xa vọng lại. Chả là trong rừng có
một cái đìa bề ngang chừng năm thước, bề dài chừng hơn bốn mươi thước, tui đã nhắm chừng từ bữa
hổm. Tiếc thiệt, bây giờ mới tới ven rừng đã có người tát rồi.
- “Ai đó mà lẹ vậy!”. Tui nói bả vậy. Nhưng rồi cả hai vẫn lẹ làng đi tới. Đứng ở mé bờ đìa bên này,
núp sau một thân cây tràm bự chảng, tui thấy một con rắn hổ mây ở mé đìa bên kia. Cái đuôi nó ngoéo
một đầu, cái đầu nó ngoéo một bên, thân hình nó dẹp lại đu đưa.
Thì ra nó đang tát nước cạn để bắt cá ăn. Tui bấm tay bả một cái đau điếng, ra hiệu đứng yên để coi
con rắn hổ mây nó làm chi. Gần xế bóng mặt trời, cái đìa đã cạn, những con cá rô, cá trê đen thùi quẫy
đành đạch trên bùn. Bả thích quá, kêu trời một tiếng.
Thấy động, con rắn vội bỏ chạy vô rừng. Tui chỉ việc bảo bả về kêu bà con ấp xóm ra bắt mang về.
Hỏng tin, mọi người hỏi bả thử coi!
Bắt Cá kèo
- Hồi xưa bác cũng đi bắt cá kèo nữa hả, bác Ba?
Bác Ba đang cùng với mấy đứa cháu lối xóm ngồi chuyện trò từ trưa đến giờ dưới gốc bụi tre tàu
trước nhà. Gió chướng thổi xạc xào cành lá. Ngồi thấy bác Ba có vẻ mỏi mệt, không muốn kể chuyện
thêm nữTruyền cắc cớ, kiếm chuyện hỏi thêm.
- Ừ! Cá kèo tao bắt dữ lắm. Có hôm lấy ghe mà chở – Bác Ba trả lời.
- Thiệt vậy hả bác? Ủa mà hồi đó bác bắt cá kèo ở đâu vậy?
Thằng Truyền lại hỏi, vẻ mặt coi bộ nghi ngờ, khó hiểu. Mấy đứa trẻ khác thì mở trừng mắt nhìn theo
mấy ngón tay đang múa may như phù phép của bác.
- Nè, coi tao bắt đây! Bác Ba đứng dậy trỏ một ngón tay xuống đất. Tụi con nên nhớ vùng biển Đá Bạc
của mình hồi đó vô cho tới tận con kinh Lung Tràm này. Cá kèo lội đặc như bánh canh trong nồi.
Nhưng ngày xưa mà, đâu có phương tiện gì nhiều để bắt cá kèo như bây giờ. Chủ yếu là bắt bằng tay
thôi. Cũng không phải ai cũng bắt bằng tay giỏi như tao. Tụi con coi đây.
Bác Ba xòe hai bàn tay giơ lên.
- Đơn giản như vầy chứ mỗi lần tao thò tay xuống sông rồi giở tay lên là bắt được mười con, mỗi kẽ
tay một con, nằm im không vẫy gì được. Cá kèo coi nó trơn lùi vậy chớ không con nào chạy tuột ra
khỏi được tay tao đâu.
Mấy đứa nhỏ ngồi nghe chợt thấm ý, bật cười, cái đầu tụi nó gục gặc. Chỉ riêng thằng Truyền không
nói, cũng không cười. Nó ngồi yên, chỉ đưa hai bàn tay ra trước mặt, cái miệng nó lép nhép nói gì như
đếm thầm. Vụt một cái nó đứng dậy bước tới, nắm tay áo bác Ba Phi lại, hỏi:
- Bác mới vừa nói mỗi kẽ tay bác bắt một con. Hai bàn tay có tám kẽ tất cả, vậy làm sao bác bắt được
mười con một lần?
Thằng nhỏ bất ngờ hỏi “trẹo cẳng ngỗng”, bác Ba đớ người một lúc rồi đưa tay vỗ vỗ xuống đầu nó
như thể nựng nịu. Bác xuống giọng:
- Đúng thế. Thằng Truyền hỏi đúng. Thông thường làm gì bắt được một lúc mười con cá kèo như vậy.
Nhưng vì tay tao bắt cá “dính” quá, nên có số cá kèo nịnh lội tới lội lui, chực sẵn bên ngoài, chờ tao
thò bàn tay xuống mỗi lần như vậy, là chúng nó nhào vô hai con một lượt để “dính ké”. Nhờ vậy mà
mỗi lần tao giơ tay lên thì được đến mười con!
Lúa Nở
Cấy xong một chục công lúa sa-mo trời cứ đổ mưa hoài, làm cho bác Ba Phi ngồi khoanh tay rầu rĩ.
Bác cứ nhấp nha, nhấp nhổm, uống trà, đi ra hàng ba đứng treo tay nhìn những cơn mưa mờ mịt ruộng
đồng, rồi trở vô ngồi vấn thuốc hút, uống trà. Thật là sống ở thời buổi nầy một khi bị tai nạn thiên
nhiên giáng xuống thì sức người đành vô phương khả đảo. Đêm nằm trăn trở lắng nghe từng cơn mưa
rơi lộp độp trên mái lá mà bác Ba cứ thở vắn than dài! Bác hay lặp đi lặp lại với bác gái cùng thằng
Đậu một câu:
- Từ hôm xuống nọc cấy đến nay tính đã… Ơi, sao mưa mãi là mưa! Cái điệu nầy chắc “bà Thủy cắt
hộ tịch” mười công lúa sa-mo của mình rồi.
Nhưng từ sau cái đêm than thở não nuột của bác Ba, dường như động lòng trời, sáng ra có mây ráng đỏ
chen vào giữa buổi bình minh. Triệu chứng này báo hiệu cho một ngày quang đãng. Quả như vậy. Mặt
trời ló dạng vàng óng như chiếc mâm thau được chùi thuốc tẩy, chiếu ra nhiều tia sáng kỳ diệu. Chim
chìa vôi cất tiếng hót líu lo ngoài tàn cây xoài. Những con cúm núm lai gà tàu ở đầu bờ ruộng gù lên
hai giọng: “ò ó o… ò, cúm núm, cúm!…” Và con bò lai nai nửa tháng trời bị thằng Đậu niệt miết trong
chuồng cho ăn toàn những rơm khô, bây giờ thấy trời ấm áp, nghếch cái đầu có chà gạc lên, nhìn đám
cỏ non bên ngoài bằng cặp mắt trong veo, thèm thuồng rồi cất tiếng rống như mừng rỡ: “Um bò! Bét,
bét!”. Mặt trời càng lên cao, những tia nắng sớm càng soi óng ánh qua từng kẽ lá trong khu vườn cây
tổng hợp của bác Ba Phi.
- Nắng hồng tươi soi bóng các em đến trường…”
Trong lúc bác Ba Phi lắc nước chiếc xuồng ba lá sau mương, để chuẩn bị đi thăm ruộng, thằng Đậu
trong nhà cứ ca hát và nhảy nhót tựa con chim trao trảo.
- Đậu à! Sửa soạn đi thăm ruộng với ông nội!
Nghe ông nội kêu, thằng Đậu vội lấy chiếc nón vải màu xanh cũ mèm có một lỗ rách trên chóp đội lên
đầu và xách cây sào nạng chạy ra. Đến bên xuồng. Thằng Đậu bị bác Ba bảo quay trở lại:
- Bỏ hờ theo một chiếc liềm hái, coi có cỏ rác gì mọc theo bờ mà cắt vén cho l
Sau đó, ông lái, cháu mũi chống xuồng qua mấy mương liếp, ra tới mé ruộng. Qua đợt mưa chum, nước
đồng lênh láng như biển. Từng đợt sóng của ngọn gió nồm bỏ vòi trắng đã bổ xồng xộc vào mạn xuồng.
Ông cháu bác Ba lái xuồng thả trôi theo sóng. Xuồng chạy te te trên mặt đồng, hướng mũi về phía đám
lúa sa-mo. Trên mặt đồng, những nơi cỏ bắp hoặc cỏ chỉ đều bị nước ngập láng te. Những đám sậy,
đám điên điển bị cỏ mục của giồng cào trôi đùn, chất lên nhau, mang theo hàng hà sa số là gián nước
và kiến riệng. Sóng đánh sì soạp vào be xuồng. Gió thổi rì rào qua đám sậy. Gió đùa lất phất hàm râu
lưa thưa dưới cằm bác Ba. Gió vuốt mơn man qua món tóc trán thòi ra chỗ nón rách trên đầu thằng
Đậu. Cảnh thôn quê dịu dàng làm dễ chịu lòng người. Gió êm đềm mát mẻ tâm hồn người ta đến nhớ
nhung mông lung vời vợi! Hai ông cháu bác Ba cứ thả xuồng và thả hồn mình trôi vào mơ mộng.
Họ cứ mê mải mỗi người tham gia vào “câu lạc bộ” của quá khứ, của tương lai riêng biệt, không ai lái
xuồng kềm cho nó đi ngay ngắn. Xuồng trôi tấp vào một con giồng cỏ cạnh miếng ruộng lúa sa-mo mà
họ định đến thăm tự hồi nào. Khi nhìn thấy một khu vực mặt đồng nước sôi tim mẳn tựa có một bầy cá
ròng ròng khổng lồ đang ăn mống, họ mới giật mình. Bác Ba gò xuồng lại, trở ngược ngọn sào xốc
xuống đất, cột xuồng. Mở gói thuốc bánh giồng ra quấn một điếu lớn bằng ngón tay cái, ngồi bập khói,
đôi mắt cứ hấp háy như còn tiếc ngẩn cơn mơ, bác Ba rầm rì phàn nàn:
- Nước ngập láng te thế này, ba cái lúa “đi ông Yẹm” hết rồi, thật toi công.
Nhìn mặt nước sôi tim mẳn, bác Ba càng chua xót trong lòng. Nhưng dù sao bác cũng thăm dò xem
đám lúa còn mất thế nào. Bác Ba uể oải ném điếu thuốc đánh xèo và chậm rãi xắn quần lội xuống
ruộng. Điều trước hết làm cho bác Ba ngạc nhiên là khi hai chân vừa chạm tới đất dường như dẫm
phải những bụi cỏ tươi còn đang căng sức sống ngầm mãnh liệt. Bác Ba chựng người, kêu lên một
tiếng nhìn thằng Đậu rồi khom người dùng tay sờ thử. Lại một ngạc nhiên kế tiếp: tai bác nghe rõ ràng
những tiếng rào rào dường như tằm đang ăn lá dâu dưới lòng nước. Kinh ngạc quá, bác Ba mò quýnh
quáng trên mặt đất để tìm xem chuyện gì. Chốc sau, khi mọi việc được xác định rõ ràng, bác Ba ngẩng
người lên thở ra một hơi dài, và vui vẻ báo tin với thằng Đậu:
- Lúa vẫn sống! Lúa đang nở ngầm trong dòng nước. Mầy nghe tiếng lúa vặn mình nở rào rào đó
không?
Suốt mười ba năm sống trên thế gian nầy, thằng Đậu chưa hề nghe thấy điều kỳ quặc vậy. Nó liền nhảy
ùm xuống đồng nước mò th để kiểm nghiệm lời nói của ông nội.
Tất bật thế nào, khi phóng xuống ruộng, ống quần của nó vướng vào mũi xuồng, giật một cái đập đầu
vào tấm lô, mắt đổ lửa:
- Trời đất ơi!
Nghe tiếng kêu thảm thiết của đứa cháu, bác Ba Phi vội chồm đến đỡ nó dậy. Bác vuốt ve, xuýt xoa
cho nó. Cái quần vải tám của thằng Đậu tét dọc từ ống lên tới háng. Một tay túm ống quần, một tay
thằng Đậu mò tìm thử xem cái chuyện lúa nở ngầm ông nội vừa nói. Quả thật! Những bụi lúa đang vặn
mình lên đâm ngạnh trê, xé bẹ nở ra lách tách nghe tựa hàng ngàn con tép rộn rã búng nhảy. Thằng Đậu
mê quá, nắm gọn vào tay một bụi nghe thử sức nở của lúa. Lúa cứ xạo xự vươn mình chỉ chốc sau đó
là đầy cứng một nắm tay.
- Làm sao hở ông nội? Cứ để như vầy lúa sẽ nở đặc gật, tới chừng trổ bị lốp hết, không có một hột nhổ
râu cho mà xem.
Bác Ba đứng ngẫm nghĩ một hồi rồi ra lệnh cho thằng Đậu:
- Phải đi cắt tranh về bó từng bụi lúa lại để hạn chế sức nở của nó.
Ông cháu bác Ba chống xuồng như bay lên vạt đất gò Kinh Ngang cắt chở về một xuồng cọng tranh. Từ
đó cho tới chiều tối, hai người mò mẫm bó lại từng bụi lúa đang có tốc độ nở ngầm dưới nước. Đêm
ấy về nhà, bác Ba Phi chống xuồng lên đầu trên, xóm dưới kêu bà con đi “bó lúa” với ông cháu bác
vào ngày mai.
Sáng hôm sau già, trẻ, bé, lớn, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, trẻ con cả xóm rầm rộ chống xuồng
ra ruộng bác Ba Phi để “bó lúa” vần công. Dĩ nhiên xuồng của ông cháu bác Ba chống tiên phuông.
Lúc dắt đoàn đi gần tới miếng ruộng lúa, chợt trông thấy một hiện tượng kỳ lạ, vội hô bà con dừng lại.
Những chiếc xuồng ba lá khẳm mẹp người ta dồn lại thành cục, tiếng sào khua rột rạt, tiếng người xôn
xao bàn tán rì rầm nổi lên. Thấy hàng ngũ nhốn nháo mất trật tự, bác Ba hô lớn cho họ yên tâm:
- Cũng chẳng phải có chuyện gì lạ lùng lắm đâu. Dường như có kẻ nào đem lưới đại quàng lại giăng
trên miếng ruộng của tôi. Bà con trông kìa, những hàng phao lưới trắng trắng, đen đen đang nổi bập
bềnh đầy mặt ruộng đó.
Tất cả nhìn theo tay bác Ba Phi. Chỗ miếng ruộng, ngay khu vực bác Ba với thằng Đậu “bó lúa” hôm
qua, có hàng dọc xâu chuỗi phao lưới của ai đang giăng, phao lưới màu đen có, xám có cái nào cũng
bự bằng trái dừa khô. Tất cả bà con nổi giận thét lên:
- Lưới quàng sao không giăng ngoài khơi mà bắt cá đao, cá dống lại đem giăng bừa lên trên lúa ngập
nước của người ta?
Thét xong, bà con ào ào tới, không cần phải làm thông lệ là ăn trầu, hút thuốc trước khi bước xuống
ruộng. Thằng Đậu đứng trước mũi, bác Ba Phi chống sau lái của chiếc xuồng đi đầu. Xuồng vượt lên
ao ào, mũi lòa nước trắng dã. Bỗng nhiên thằng Đậu kêu lên:
- Coi kìa! Mỗi chiếc phao sao lại có hai chân chòi đạp sáng nước?
Bác Ba vội vã chống sào nạng nhún liền mấy cái, chiếc xuồng vọt tới nơi. Bác đã biết rõ những cái
thứ trước mặt là giống gì rồi, vội thét lên:
- Xúm lại bắt chim bà con ơi!
Nghe bác Ba Phi kêu, tất cả xuồng ùn ùn chống tới, vây quanh khoảnh ruộng có những hàng “phao
lưới” nổi. Khi nhìn tận mắt họ mới vỗ tay rần rần, cười nói vang dậy trên đồng nước:
- Thật là chuyện lạ trên đời, thế gian hi hữu!
Chim ơi là chim! Chàng bè, le le, giăng sen, cồng cộc không rõ can cớ gì mà chúng cứ chổng mông,
cắm đầu xuống nước, giơ hai chân chỏi ngược lên trời? Bà con nhảy ùm xuống ruộng mò thử xem. Rốt
ra họ mới hiểu rõ nguyên nhân: Chim đang mắc kẹt đầu trong giữa bụi lúa. Đây là những loài chim ăn
đêm, mò nước, bị lúa nở ra, kẹp mắc đầu vào giữa kéo không lên được. Bà con xúm lại “nhổ” chim
lên, dùng dây tranh bó lúa trói chúng lại, mỗi xuồng bỏ đầy một khoang.
Bác Ba Phi Làm Thầy Bói
Mấy hôm nay, Hai Lúa cứ nghe thằng Út của mình nói mãi về ông thầy bói hổng biết từ đâu tới coi
tướng, coi tay hay hết biết luôn. Từ khi ông ta tới, lối xóm coi đông nghẹt.
- Ba biết hông. – Thằng Út huyên thuyên – Ngay cả ông hội đồng dữ tợn thấy mà vẫn phải sợ ổng. Cả
tuần nay, ông ra rước ổng về cơm nước, trà rượu hẳn hoi với tiền công lên tới hàng trăm đồng chỉ để
coi tiền vận, hậu vận gia đình ông ta. Ổng nói ông hội có nhiều vợ lẽ, con rơi nên gia đạo bất an, nếu
không tích đức như đem của cải chia sớt cho người nghèo, giảm thuế ruộng, thuế đất thì sau này cuộc
đời sẽ khốn khổ, hổng chừng lại bị tù đày.
- Hừ! Nói vậy tao nói cũng được. – Hai Lúa xua tay.
Thằng Út cãi lại:
- Tại ba không tin thôi, chứ còn nhiều chuyện lạ nữa kìa. Như chuyện chú Tư, ổng coi tay, coi tướng
một lát rồi nói: Bàn tay chú có tài lộc đang chờ, nhưng ngặt tuổi kỵ màu đỏ, màu đen. Nếu chú giải
được nạn đó thì nên đi qua Rạch Ráng xin lỗi bà nhạc gia rồi rước vợ về cho yên gia đạo. Mượn luôn
vài chục công đất đi mua lúa cày cấy liền tay cho tới Tết thì trong nhà chú lúa không dưới năm trăm
giạ, gia đạo yên, tiền tài vô như nước. Còn việc kỵ màu đen, nếu bỏ đá gà, bài bạc, đánh đề thì xong
tuốt.
Nghe thằng Út kể tới đó, Hai Lúa đòi đi xem mặt lão thầy bói. Nhưng khi vừa thấy Hai Lúa, ông thầy
bói đã tái mặt. Còn Hai Lúa, nhìn lão thầy bói thấy râu giả, kiếng che mặt và gương mặt hao hao giống
ai đó, Hai Lúa ra về thì thầy bói cũng nhổ neo đi mất.
Mấy năm sau, trong một lần có “rượu vào lời ra”, Hai Lúa chợt hỏi:
- Năm đó tại sao chú bỏ trốn?
- Không trốn anh lật tẩy à? – Ba Phi tao cười khà – Chuyện tui làm thầy bói thiệt tình tui có muốn đâu.
Cũng bởi, tui thấy bà con mình mê bói toán, nên tui mới làm vậy với ý định hạn chế phần nào tệ nạn xã
hội ở xứ mình thôi mà. Anh Hai nhớ đi, tui xủ quẻ cho họ mà tui lấy đồng nào không? Lúc tui gặp anh,
tui giận lắm vì bị anh phá ngang xương, nhưng nghĩ lại mới thấy chuyện anh tới là đúng lúc, chớ để tui
hết bài, nói ẩu không chừng hậu quả ngược lại ý muốn của mình thì chết cha.
Rùa U Minh
“Ai làm gì mà khói lên trong hậu đất vậy cà?” – Đứng sau hè, thấy khói lên trong hậu đất, tui lẩm bẩm
như vậy rồi bỏ vô nhà. Mới bưng chén trà lên hớp một ngụm, thì thằng Sáu hào hển chạy kêu:
- Bác Ba ơi! Ai đốt cháy Lung Tràm, rùa qua hậu đất bác lểnh nghểnh. Hai bác cháu mình ra ví bắt ít
con, chiều rang muối nhậu lai rai chơi.
Nghe nói nhậu rùa rang muối, tui chép nước miếng, lật đật với cái bao bố rồi dông theo thằng Sáu liền.
Hai bác cháu tui vừa ra khỏi mé vườn thì thấy từ phía Lung Tràm rùa bò qua thật nhanh. Chúng còn ở
ngoài kia, nhưng dường như thấy tụi tui nên nghểnh cổ nhìn. Đi tới chút nữa, bỗng bầy rùa ấy chụm đầu
ngay vào chúng tui mà khẹt lửa. Liền đó, mấy trái đạn ĐK.57 nổ ầm ầm trên đầu. Hai bác cháu tui
phóng xuống mương, bươn chạy một bữa muốn phờ râu. Biết sao không? Xe lội nước chớ rùa gì. Sau
đó không lâu, cũng thấy lửa cháy ven lung như vậy, cũng thằng Sáu hào hển qua, kêu:
- Bác Ba ơi! Xe lội nước đốt sậy, càn qua tới hậu đất rồi kìa. Chạy trốn mau đi! Hai bác cháu tui chạy
một mạch qua tới Lung Bùn, chém vè cho tới chiều. Về chưa tới nhà, thì thằng Ba Lùn chặn lại rủ vô
nhà nhậu thịt rùa rang luối. Nó bảo là hồi trưa nó đốt giang sậy ven Lung Tràm, bắt được vài chục con
rùa. Nó còn nói có mấy con bò qua hậu đất tui, bắt không được. Nghe nói mà tui tiếc hùi hụi. Hồi trưa
thấy bầy rùa bò đó mà tưởng đâu xe lội nước, bỏ chạy trốn. Thiệt tức!
Lại một lần sau nữa thấy lửa cháy giang sậy, cũng thằng Sáu chạy qua kêu:
- Bác Ba ơi! Lần này đón bắt rùa thiệt đó!
Hai bác cháu tui cảnh giác, đứng núp trong bờ chuối nhìn ra. Tui thấy từ xa những chấm đen đang động
đậy, nhích dần về phía mình. Thằng Sáu dợm chạy ra bắt.Tui nắm tay nó, kéo lại:
- Chết mẹ! Xe lội nước!
Xe lội nước thiệt. Chúng căng thành hàng ngang chạy ngang qua. Hai bác cháu tui chạy một mạch qua
Lung Bùn, chém vè vô đám nga. Hai đứa chia nhau hai chỗ. Trốn trong con lung này đầy sình lầy, xe
lội nước khó lòng mà chạy vô được.
Tui nằm chờ co ro trong một lùm nga, nghe tiếng xe chạy rù rù êm tai làm cơn buồn ngủ kéo ghị sụp mí
mắt xuống. Trong mơ mơ màng màng, tui nghe xa xa có tiếng lửa cháy, sậy nổ rốp rốp, gần gần có tiếng
rùa bò qua sột soạt.
Trước mắt tui, chập chờn hình ảnh những còn rùa vừa bò ngang vừa ngóng cổ lên như nòng súng ĐK
trên mui xe lội nước. Lại tốp rùa phía sau bò tới nữa, tới nữa. Rùa nhả lửa, khạc đạn ầm ầm, ì ì… Có
một con bò đến bên chân tui, thở phì phò, phì phò… Tui cứ nằm im, nói thầm trong bụng: Kệ cha mày!
Đừng gạt tao chạy ra bắt để gặp xe lội nước nữa. Nhưng con rùa đó thật kỳ cục, cứ nhắm chân tui mà
bò lên, mà thở phì phò nóng hổi. Hơi thở của nó hôi xăng tanh rình. Người ta nói không thèm bắt nó rồi
mà cứ ủi ủi vào chân mãi. Tui nổi xung, tống cho nó một đạp thật mạnh. Con rùa văng bổng lên khỏi
đọt nga, rớt ngửa ra giữa lung bùn một cái ùm, nước văng trắng dã. Tui giựt mình tỉnh dậy, vì bàn chân
tui đau điếng. Đang ngồi xoa bóp, bỗng nghe ai đó bò xột xọt lại gần. Thằng Sáu! Nó đến sát bên tai
tui, thì thào:
- Chết rồi bác Ba ơi! Tính sao bây giờ? Có một chiếc xe lội nước đang bò vô chỗ này, bỗng nhiên nó
văng bắn, lộn nhào ra giữa lung. Nó còn nằm ngửa bơi bơi như hai sợi dây xích lên trời như hai con
cuốn chiếu lật ngược vậy đó.
Chài Cá Chốt
Bữa nọ, bác Ba gái bây bả thèm mắm tép, vì thế bả kêu tao đi chiều về mần ít nắm, sẵn gởi cho Hai
Lúa một mớ nhậu chơi.
Làm theo lời bả, hai ông cháu tao chống xuồng ra sông cái, rà tới rà lui một hồi, tao tấp xuồng vô bờ
rồi quăng chài, cái chài tròn lủm thiệt là vừa mắt.
Quăng xong, ông cháu tao ngồi chờ, nhưng lạ quá, cái chài không muốn chìm.
Ngồi chờ đến tàn điếu thuốc, mà cái chài cứ nhồi lên, chìm xuống như cặp bè gặp sóng không bằng.
Tức mình nên tao biểu thằng Đậu phóng xuống mò thử xem sao. Loáng sau, thằng Đậu đã trồi lên, nó
thở khì:
- Chài không mắc gốc đâu nội ơi. Tại nó chụp đúng bầy cá đông nghẹt nên nó không chìm được đó
thôi.
Kiếm tép lại gặp cá, nhưng bỏ cá thì uổng, ông cháu tao đành hì hục kéo cái chài đầy cá lên xuồng,
vừa vặn nước liếm be.
Đẩy được chiếc xuồng về đến xóm thì đã quá trưa, tao quyết định đưa chài lẫn cá lên giàn phơi luôn,
chớ cá chốt gai ngạnh thấy phát ớn, ai đâu mà gỡ cho nổi.
Phơi luôn tới ngày hôm sau, ông cháu tao lấy chài xuống gỡ được hơn c thúng cá khô. Tổng cộng là
mười hai ngàn lẻ hai con cả thảy. Bác Ba gái bây kêu thằng Đậu cuốn bồ, vô cá để làm phân rải cho
mùa dưa hấu tới.
- Nè, bác Ba! Hổng lẽ bác đếm từng con cá chốt sao mà bác biết nó có mười hai ngàn lẻ hai con?
- Trời đất! Thứ đồ cá làm phân, ai hơi sức đâu để đếm. Tại vì cái chài của tao có mười hai ngàn lẻ hai
lỗ, mỗi lỗ dính một con, vậy có phải mười hai ngàn lẻ hai con không hả?
Khỉ Đi Phát Cỏ Ruộng
Hồi mới khai phá vùng này, khỉ nhiều vô kể. Mỗi bầy đông tới hàng trăm con, con lớn bằng đứa trẻ lên
bốn, lên năm. Chúng phá ác lắm. Tui trồng được thứ gì là nó vặt trọi thứ đó. Năm nọ, tui trồng rẫy
khoai rộng lắm. Tới chừng khoai có củ, khỉ móc ăn sạch sành sanh. Tức mình quá, tui tìm kế trị chúng
một trận cho tởn.
Suy nghĩ hoài mà chưa có cách, giống khỉ khôn có hạng, đâu phải dễ dàng gì gạt được nó. Một hôm,
nghĩ ra một kế. Cứ mỗi lần đi làm ruộng là nó bu lại ngồi trên đọt tràm dòm ngó. Tui chợt hiểu: À!
Đám này là chúa bắt chước. Vậy là tới bờ, tui kéo xuồng lên, múc nước trong xuồng uống rồi rửa mặt.
Nước trong xuồng tui pha mật ong ngọt lịm. Khi về...
 





